Đại Pháp từ bi khai thiên ân, cứu thế nhờ vào Chân Thiện Nhẫn

Tác giả: Huệ Kiếm

[ChanhKien.org]

Chữ chân (真):

Chữ kim văn tiểu triện gồm chữ chủy (匕 cái muôi) và chữ đỉnh (鼎 cái đỉnh, cái vạc). Chủy có nghĩa là cúi nhặt được. Chữ đỉnh (鼎) biểu thị sự uy nghiêm, trang trọng như cái đỉnh, thể hiện sức mạnh, quyền uy, có tính áp chế, có thể giữ cho sự vật kiên định, ổn định, không dao động trong một trạng thái nào đó. Nghĩa gốc của chữ này là trấn (镇 trấn áp, giữ yên). Nghĩa hiện tại thường dùng là “chân thực”, “chân chính” .

Như vậy nghĩa gốc của chữ chân (真) là trầm trọng, ổn định, các chữ ghép với chữ này gồm có:

Trấn (镇): chữ tiểu triện, gồm chữ kim (金kim loại) và chữ chân (真), thể hiện trạng thái áp chế chặt chẽ, ổn định như kim loại.

Chấn (瑱 vật để đè): chữ tiểu triện, gồm chữ ngọc (玉) và chữ chân (真). Ngọc chấn, vật chặn giấy làm bằng ngọc.

Chẩn (縝、缜 kỹ càng): gồm bộ mịch (糸 sợi tơ) và chữ chân (真), nghĩa là ổn định, không hỗn loạn, điềm tĩnh, thấu đáo.

Chân (鬒 búi tóc): chữ tiểu triện, gồm chữ tiêu (髟tóc dài) và chữ chân (真), nghĩa là cố định tóc lại.

Sân (嗔 cáu giận): chữ tiểu triện gồm chữ khẩu (口 cái miệng) và chữ chân (真), dùng giọng nói để trấn át, dọa nạt.

Sân (瞋 trợn mắt): chữ tiểu triện gồm chữ mục (目 con mắt) và chữ chân (真), dùng ánh mắt để áp chế người khác.

Thận (慎 cẩn thận, thận trọng): chữ tiểu triện, gồm chữ tâm (心trái tim) và chữ chân (真), chỉ sự ổn định về tâm lý. Nghĩa hiện tại thường dùng chỉ thái độ làm việc cẩn thận, siêng năng, tỉ mỉ; tâm thái an định, trấn tĩnh.

Điên (颠 điên đảo): chữ tiểu triện, gồm chữ chân (真) và chữ hiệt (頁 đầu não), nghĩa là gây sức ép lên đỉnh đầu. Nghĩa hiện tại thứ nhất là nghiêng ngả (vật bị thứ khác rơi xuống đỉnh khiến nó chòng chành, chao đảo). Nghĩa thứ hai là lật nhào (vật bị đè lên đỉnh khiến nó lật ngược xuống). Nghĩa thứ ba là lang bạt kỳ hồ (chỉ chất lỏng bên trong bình chứa thức ăn bị tròng trành, tràn ra ngoài miệng bình, chảy khắp xung quanh, mô tả cuộc sống không an định, phải mang theo đồ dùng nhà bếp mà bôn ba khắp nơi).

Điền (滇 tên gọi tắt của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc): chữ tiểu triện, gồm chữ thủy (水 nước) và chữ chân (真), nghĩa là sự áp chế tại ngọn nguồn của dòng nước. Từ này dùng để chỉ một hồ nước lớn trên cao nguyên Vân Quý.

Điền (填 lấp đầy): chữ tiểu triện, gồm bộ thổ (土 đất) và chữ chân (真), nghĩa là mang đất đã đào lên lấp trở lại hố, khiến cho vật ở trong hố bị đất lấp lên mà ổn định, bất động.

Điền (阗 tràn đầy): chữ tiểu tiểu triện gồm bộ môn (門cửa) và chữ chân (真), ý nghĩa là tràn ra cửa, ví dụ: quân đội tràn ra chiếm giữ các cửa ải.

Các chữ ghép với chữ điên (颠) gồm có:

Điên (癫 điên loạn): gồm chữ bệnh (疒 bệnh tật) và chữ điên (颠), chỉ bệnh lý ở đầu do không có khả năng an định (bệnh động kinh: không thể giữ ổn định đầu não, triệu chứng ý thức ngừng nghỉ có tính gián đoạn).

Điên (巅 đỉnh núi): gồm chữ sơn (山 núi) và chữ điên (颠), chỉ đầu đỉnh ngọn núi.

Không có sự vật nào có thể được phép xấu đi một cách triệt để. Cho nên nếu Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dẫn dắt đạo đức con người đến chỗ băng hoại toàn diện, hủy diệt toàn bộ, vậy thì chúng sẽ phải đối mặt với kết cục đáng sợ là bị đào thải bởi lịch sử thành-trụ-hoại-diệt của vũ trụ. Vào thời khắc nguy vong này, Đại Pháp và các học viên Đại Pháp lấy Pháp lý tối cao Chân-Thiện-Nhẫn để khai thị cho nhân gian, đây là cuộc chiến giành giật kinh tâm động phách bên bờ vực thẳm với ĐCSTQ để cứu vãn lương tâm và nhân tính con người. Thiện và ác, chính và tà cùng xung đột, giao tranh với nhau, trong tỉnh và mê, sinh và diệt, mỗi người cần đưa ra lựa chọn cho mình. Những người nghe theo sự đầu độc của ĐCSTQ mà thù hận Đại Pháp, lấy oán trả ân, vì hám lợi mà không màng sống chết, sẽ bị ma quỷ dẫn dụ vào địa ngục. Những người nhìn rõ ĐCSTQ mới là kẻ gây họa cho Trung Quốc, giết người lương thiện, từ đó mà dừng cương trước bờ vực, đồng thời phế bỏ lời thề độc gia nhập đảng mà nó có thể đến đòi mạng bất cứ lúc nào, nhảy khỏi con tàu hải tặc đó, để tìm được đường sống trở về từ cõi chết. Những quy định pháp luật mà ngay cả người hoạch định ra nó cũng không tin tưởng và tuân thủ, lại hi vọng nó có thể chỉnh đốn được người khác thì chẳng phải là vọng tưởng sao? Cứ tuân theo những quy tắc này thì sẽ không còn đường thoái lui, chỉ có thể ngày càng bị lún sâu vào vòng xoáy Giả-Ác- Đấu của ĐCSTQ, cuối cùng tất phải rơi vào vực thẳm.

Chữ Thiện (善):

Chữ kim văn tiểu triện, gồm bộ dương (羊 con dê, may mắn) và song ngôn (双言lời nói), biểu hiện phong thái an nhàn, thoải mái, hiền lành, tường hòa.

Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế. Hình Bồ Tát Quán Âm: Chen, S. M. (Thế kỷ 20). Quán Âm. MutualArt.

Thiện (膳 bữa ăn): chữ kim văn tiểu triện , gồm chữ nhục (肉 thịt) và chữ thiện (善), chỉ sự thân thiện với cơ thể, dễ tiêu hóa hấp thu.

Thiện (缮 tu sửa, hoàn thiện): chữ tiểu triện gồm bộ mịch (糸 sợi tơ) và chữ thiện (善), sử dụng sự vật và phương thức thân thiện để tu bổ, bảo dưỡng, nhằm giữ được mối quan hệ hòa hợp với vật được tu sửa.

Thiện (蟮 con giun): gồm bộ trùng (虫sâu bọ) và chữ thiện (善), chỉ một loài vật hiền lành, không có khả năng kháng cự.

Thiện (鳝 con lươn): gồm chữ ngư (鱼 ) và chữ thiện (善), chỉ một loài vật hình rắn mang cá hiền lành sống ẩn dật, không có khả năng kháng cự.

Các đệ tử Đại Pháp đang gánh vác trách nhiệm lớn lao kéo dài cơ duyên trân quý trôi qua trong chớp mắt này, bằng hành động lớn lao là giảng chân tướng, làm trong sạch thị phi, thức tỉnh lương tâm con người, mà dẫn động dòng trong giữa đời đục, một mình xoay chuyển tình thế, chính là lực lượng tân sinh duy nhất để thế giới ngày nay thoát thai hoán cốt. Khi thế giới được Pháp lý vũ trụ hủy đi cái cũ dựng lập cái mới, thì ĐCSTQ hủ bại cực độ cùng những vật chất Giả-Ác-Đấu do nó tạo nên đều sẽ tan thành mây khói. Những kẻ đi theo nó cũng sẽ bị chôn vùi một cách bi thảm trong nỗi thống hận cùng với nó. Duy chỉ có những người tốt tin theo Chân Thiện Nhẫn, đi theo con đường tốt đẹp mới có tư cách và may mắn đạt đến cảnh giới mới hoàn thiện, hoàn mỹ. Hãy trân quý cơ duyên và mau chóng từ bỏ những độc tố của ĐCSTQ trong tư tưởng, nhận rõ chính tà, giữ vững lập trường đúng đắn mới có thể thực sự có trách nhiệm với tương lai của mình.

Chữ Nhẫn (忍):

Chữ kim văn tiểu triện , gồm chữ nhận (刃) và chữ tâm (心), trong ý thức tư tưởng giữ thái độ chịu đựng đối với bộ phận đã bị tổn thương, nghĩa thường dùng là dung nhẫn, nhẫn chịu, nhẫn nại.

Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế. Hình Phật Đà: Chương Thúy Anh. Uy Đức. Chánh Kiến.

Nhận (刃 lưỡi đao) nghĩa là khiến cho phù hợp mà ổn định, đi vào quỹ đạo, đúng chỗ của mình. Tham khảo những chữ ghép với chữ  nhận (刃) như sau:

Nhẫn (刃): chữ kim văn tiểu triện, gồm chữ nhận (刃) và nét chấm (丶), biểu đạt con dao đã nhằm đúng vào điểm then chốt của vật thể và đợi bước tiếp theo cắm vào bên trong, chữ này biểu thị lưỡi dao đã vào đúng vị trí.

Nhẫn (纫 khâu vá): chữ tiểu triện, gồm bộ mịch (糸 sợi tơ) và chữ nhận (刃), giữ cho vải vóc ổn định vào đúng vị trí, giúp các vật liên quan vào đúng vị trí.

Nhẫn (轫 cái chặn bánh xe): chữ tiểu triện, gồm bộ xa (車 xe cộ) và chữ nhận (刃). Vào thời xưa người ta dùng miếng gỗ chèn vào dưới bánh xe để chặn không cho bánh xe lăn.

Nhẫn (仞 đơn vị đo lường thời xưa): chữ tiểu triện, gồm chữ nhân (人 người) và chữ nhận (刃), là đơn vị để đo chiều cao thân thể người.

Nhẫn (韌、韧 dẻo dai): chữ tiểu triện gồm chữ vi (韋 da thuộc) và chữ nhận (刃), chỉ vật thể có khả năng uốn cong hình dạng tốt (khi uốn cong không dễ bị đứt gãy).

Nhận (認、认 nhận thức): gồm bộ ngôn (言 lời nói) và chữ nhẫn (忍), biểu thị ý nghĩa dung nhẫn, chấp nhận, thừa nhận, nghiêm túc.


Dịch từ: http://www.zhengjian.org/node/238867

Trích từ: https://chanhkien.org/2017/10/dai-phap-tu-bi-khai-thien-an-cuu-the-nho-vao-chan-thien-nhan.html

Đại Pháp từ bi khai thiên ân, cứu thế nhờ vào Chân Thiện Nhẫn